Kiến thức · Bảo trì điện lạnh
Máy nén lạnh tụt áp: kiểm tra áp suất hút và áp suất đẩy theo chế độ
Máy nén lạnh tụt áp là tình huống hệ thống vẫn chạy, máy nén vẫn quay nhưng năng suất lạnh không còn như trước: áp suất hút và áp suất đẩy cùng thấp hơn mức làm việc quen thuộc ở chế độ đang chạy. Vấn đề khó nhất khi chẩn đoán không phải là đọc được hai con số, mà là phân biệt hai nguyên nhân hoàn toàn khác nhau: hệ thống đang thiếu tải thật, hay máy nén đã mất khả năng nén. Bài viết này trình bày cách đối chiếu cặp áp suất hút – đẩy với nhiệt độ bay hơi và nhiệt độ ngưng tụ thực tế, thứ tự kiểm tra theo đường nén và căn cứ để chuyển kết quả đọc thành hạng mục bảo trì cụ thể.
Chuyên mụcBảo trì điện lạnh
Tóm tắt nhanh
- Áp suất phải luôn được đọc theo chế độ làm việc đang chạy: cùng một cụm máy, hai chế độ tải khác nhau cho hai bộ số liệu khác nhau và không so được với nhau.
- Ba nhóm số liệu cần đọc cùng lúc: cặp áp suất hút – đẩy, nhiệt độ bay hơi – ngưng tụ thực tế, và mức tải mà hệ thống đang phục vụ.
- Thiếu tải thật thì nhiệt độ bay hơi thường cao hơn mức làm việc và áp suất đi theo chiều đó; mất năng suất nén thì cặp áp suất lệch khỏi tương quan vốn có với nhiệt độ.
- Khi cặp áp suất cùng tụt mà nhiệt độ ngưng tụ và nhiệt độ bay hơi không giải thích được, hướng kiểm tra chuyển sang phần nén: đường hút, van tiết lưu, phụ tùng bên trong và tình trạng dầu.
- Việc đọc và ghi số liệu là công việc của người vận hành; mọi thao tác liên quan tới môi chất, dầu, van và điện thuộc người có chuyên môn theo quy trình an toàn của nhà máy.
- Căn cứ để chuyển sang bảo trì là xu hướng lệch theo thời gian, không phải một lần đọc đơn lẻ: cần ít nhất hai lần ghi trong cùng chế độ để xác định hệ thống đang mất dần năng suất hay chỉ đang chạy ở tải thấp.
Nguyên tắc đọc
Vì sao tụt áp phải đọc theo chế độ làm việc
Áp suất hút gắn với nhiệt độ bay hơi, áp suất đẩy gắn với nhiệt độ ngưng tụ. Khi hệ thống chạy ở tải thấp, ít nhiệt cần lấy đi, nhiệt độ bay hơi tăng lên và áp suất hút cũng tăng theo; khi tải tăng, chiều thay đổi ngược lại. Vì vậy một cặp áp suất chỉ có ý nghĩa khi biết lúc đọc hệ thống đang làm việc ở đâu.
Cách làm việc an toàn là ghi kèm điều kiện đọc: chế độ làm việc, số cụm máy đang chạy, nhiệt độ khu vực đang phục vụ và thời điểm đọc. Thiếu phần điều kiện này, số liệu vẫn đúng nhưng không dùng được để kết luận, và lần kiểm tra sau cũng không có mốc so sánh.
Tụt áp có thể là bình thường
Một hệ thống chuyển sang tải thấp, đóng bớt cụm máy hoặc vừa hoàn tất chu kỳ xả đá sẽ cho cặp áp suất thấp hơn bình thường. Trong trường hợp đó, nhiệt độ khu vực phục vụ vẫn đạt, thời gian chạy không dài hơn và bộ số liệu trở lại mức cũ khi tải trở lại. Đây là thay đổi theo thiết kế, không phải sự cố.
Tụt áp cần chẩn đoán khi nào
Dấu hiệu cần chẩn đoán là khi cặp áp suất lệch khỏi mức làm việc quen thuộc ở chính chế độ đó, kèm một trong các biểu hiện: thời gian đạt nhiệt độ kéo dài, máy chạy liên tục không nghỉ, nhiệt độ khu vực phục vụ không đạt, hoặc chính cặp áp suất thay đổi liên tục không ổn định dù tải không đổi.
Bộ số liệu
Ba nhóm số liệu phải đọc trong cùng một chế độ
| Nhóm số liệu | Đọc ở đâu | Ý nghĩa khi phân tích | Sai số thường gặp khi ghi |
|---|---|---|---|
| Cặp áp suất hút – đẩy | Đồng hồ áp suất đường hút và đường đẩy | Cho biết tương quan giữa hai phía của quá trình nén ở chế độ đang chạy | Đọc hai phía ở hai thời điểm khác nhau rồi ghép thành một cặp |
| Nhiệt độ bay hơi – ngưng tụ thực tế | Cảm biến nhiệt độ hoặc dụng cụ đo tại vị trí đã thống nhất | Giải thích vì sao cặp áp suất ở mức đó: do tải hay do trao đổi nhiệt | Chỉ ghi nhiệt độ phòng hoặc nhiệt độ kho mà không ghi nhiệt độ môi chất |
| Tải thực tế của hệ thống | Nhật ký vận hành, số cụm máy chạy, cửa mở, nguồn nhiệt phát sinh | Là điều kiện bắt buộc để so sánh giữa các lần đọc | Bỏ qua tải, dẫn tới so sánh hai chế độ khác nhau |
Ba nhóm này phải thuộc cùng một khoảng thời gian vận hành. Nếu vì điều kiện sản xuất mà không đọc được cùng lúc, ghi rõ thời điểm từng nhóm để người phân tích biết giới hạn của bộ số liệu.
Phân biệt
Phân biệt thiếu tải và mất năng suất nén
Hai nguyên nhân này cho cảm nhận gần giống nhau tại khu vực sản xuất nhưng dẫn tới hai hướng xử lý khác nhau. Trình tự dưới đây giúp phân biệt trước khi gọi thêm nguồn lực kỹ thuật.
- Xác nhận tải thực tế: đối chiếu sản lượng, số cụm máy đang chạy, cửa ra vào và nguồn nhiệt phát sinh với ngày vận hành bình thường.
- Đọc nhiệt độ bay hơi thực tế: nếu nhiệt độ bay hơi cao hơn mức làm việc quen thuộc mà tải thấp, cặp áp suất thấp là hệ quả hợp lý của tải.
- Đọc nhiệt độ ngưng tụ thực tế: nếu nhiệt độ ngưng tụ cũng thấp tương ứng, cặp áp suất thấp vẫn nằm trong quan hệ bình thường của hệ thống.
- So tương quan hai cặp số: khi nhiệt độ bay hơi và ngưng tụ không giải thích được mức áp suất đọc được, hướng nghi vấn chuyển sang phần nén.
- Kiểm tra đường hút và các điểm đã từng có dấu hiệu thất thoát: dấu vết dầu, lớp cách nhiệt bong, tiếng lạ ở đường ống.
- Kiểm tra van tiết lưu và phía sau nó: trạng thái cấp môi chất về dàn bay hơi có còn tương ứng với chế độ đang chạy hay không.
- Ghi lại kết luận tạm thời kèm điều kiện kiểm tra lại, để lần đọc sau xác nhận hệ thống đang mất dần năng suất hay chỉ đang chạy ở tải thấp.
Kết luận chỉ nên đưa ra khi hai lần đọc trong cùng chế độ cho cùng chiều hướng. Một lần đọc đơn lẻ, dù chênh lệch lớn, vẫn chưa đủ để khẳng định máy nén mất năng suất.
Đọc áp suất không phải là thao tác trên hệ thống
Toàn bộ nội dung trong bài là đọc, ghi và đối chiếu số liệu. Không mở van, không nạp, không xả, không tháo cụm máy và không điều chỉnh cài đặt bảo vệ khi hệ thống đang vận hành. Các thao tác trên môi chất, dầu, van tiết lưu, điện và áp suất chỉ do người có chuyên môn thực hiện theo quy trình an toàn và giấy phép làm việc của nhà máy. Khi áp suất thay đổi bất thường kèm tiếng lạ, rung, mùi khét hoặc rò rỉ, dừng máy theo đúng quy trình dừng máy và báo bộ phận kỹ thuật thay vì tiếp tục theo dõi.
Trình tự làm việc
Sáu bước từ lần đọc đến hạng mục bảo trì
Sáu bước dưới đây là trình tự trao đổi giữa bộ phận vận hành và bộ phận kỹ thuật khi đã xác định cặp áp suất lệch khỏi mức làm việc quen thuộc.
Chốt chế độ và bộ số liệu
Ghi chế độ làm việc, tải thực tế, cặp áp suất và nhiệt độ bay hơi – ngưng tụ trong cùng một khoảng thời gian, kèm dụng cụ đo và người đọc.
Đối chiếu với mốc vận hành ổn định
So bộ số liệu với lần ghi gần nhất ở cùng chế độ để xác định hệ thống đang lệch bao nhiêu và lệch theo chiều nào.
Loại trừ nguyên nhân theo tải
Kiểm tra sản lượng, nguồn nhiệt phát sinh, cửa mở và chu kỳ vận hành trước khi kết luận phần nén, vì thay đổi theo tải là nguyên nhân phổ biến và dễ xác nhận nhất.
Loại trừ nguyên nhân theo trao đổi nhiệt
Đối chiếu nhiệt độ ngưng tụ và nhiệt độ bay hơi thực tế với mức làm việc quen thuộc để xác định khả năng nhả nhiệt và khả năng lấy nhiệt có còn tương ứng với thiết kế hay không.
Khoanh vùng phần nén
Khi hai bước trên không giải thích được số liệu, chuyển sang kiểm tra đường hút, van tiết lưu, phụ tùng và tình trạng dầu theo hướng nghi vấn đã ghi.
Chốt hạng mục và điều kiện kiểm tra lại
Ghi hạng mục cần xử lý kèm phạm vi, người thực hiện và thời điểm đọc lại theo cùng chế độ, để lần sau có mốc xác nhận năng suất đã trở lại hay chưa.
Với hiện tượng tụt áp, giá trị của lần kiểm tra nằm ở bộ số liệu lặp lại được: cùng chế độ, cùng điểm đọc, cùng cách ghi. Chỉ khi đó mới xác định được xu hướng mất năng suất.
Đối chiếu
Thiếu tải và mất năng suất nén đối chiếu theo bốn nhóm
| Nhóm đối chiếu | Thiếu tải thật | Mất năng suất nén | Cách phân biệt tại chỗ |
|---|---|---|---|
| Cặp áp suất hút – đẩy | Cùng thấp và tương quan giữa hai phía vẫn giữ | Lệch khỏi tương quan vốn có với nhiệt độ đọc được | So tương quan hai áp suất với hai nhiệt độ trong cùng lần đọc |
| Nhiệt độ bay hơi thực tế | Cao hơn mức làm việc quen thuộc do ít nhiệt cần lấy đi | Không tăng tương ứng, hoặc dao động không theo tải | Đối chiếu nhiệt độ bay hơi với tải thực tế của khu vực |
| Thời gian đạt nhiệt độ | Không dài hơn bình thường khi tải trở lại | Kéo dài dần qua nhiều kỳ theo dõi | So thời gian đạt nhiệt độ theo nhật ký vận hành nhiều ngày |
| Hành vi của cụm máy | Chạy theo tải, có thời gian nghỉ bình thường | Chạy liên tục, ít nghỉ, hoặc cắt bất thường | Đối chiếu thời gian chạy thực tế với lịch sản xuất |
Bảng đối chiếu giúp chọn hướng kiểm tra trước, không thay thế chẩn đoán của người có chuyên môn. Trong thực tế hai nguyên nhân có thể xuất hiện cùng lúc, ví dụ vừa giảm tải vừa có thất thoát ở đường hút; vì vậy hạng mục xử lý cần ghi rõ phần nào thuộc vận hành và phần nào thuộc thiết bị.
Lỗi thường gặp
Những kết luận sai thường gặp khi máy nén tụt áp
Các tình huống dưới đây dẫn tới việc xử lý sai hướng hoặc xử lý lặp lại nhiều lần. Điểm chung là kết luận được đưa ra khi bộ số liệu chưa đủ điều kiện so sánh.
- Kết luận máy nén mất năng suất chỉ vì cặp áp suất thấp, trong khi chưa xác nhận tải thực tế của khu vực.
- So bộ số liệu đọc ở tải thấp với bộ số liệu của ngày chạy cao điểm, rồi coi chênh lệch là dấu hiệu hư hỏng.
- Chỉ ghi nhiệt độ kho hoặc nhiệt độ phòng mà không ghi nhiệt độ bay hơi – ngưng tụ, khiến không giải thích được nguyên nhân của cặp áp suất.
- Xử lý xong nhưng không đọc lại ở cùng chế độ, nên không biết năng suất đã trở lại hay chỉ tạm thời ổn định.
- Gộp hiện tượng tụt áp với hiện tượng áp suất đẩy cao thành một vấn đề, dù hai triệu chứng này có chuỗi kiểm tra khác nhau.
- Dùng kết luận của một cụm máy để áp cho cụm máy khác trong cùng hệ thống khi hai cụm đang ở hai chế độ tải khác nhau.
Mỗi trường hợp trên đều tránh được bằng cùng một cách: chốt chế độ làm việc trước, đọc đủ ba nhóm số liệu, so với mốc vận hành ổn định và ghi kèm điều kiện kiểm tra lại.
Danh mục kiểm tra
Danh mục kiểm tra khi máy nén lạnh tụt áp
Danh mục dưới đây dùng cho lần kiểm tra tại chỗ. Mỗi mục nên được ghi kèm số liệu hoặc trạng thái quan sát, thời điểm thực hiện và chế độ tải, để lần đọc sau so sánh được trên cùng bộ chỉ số.
- Xác nhận hiện tượng: cặp áp suất cùng thấp, chỉ áp suất đẩy thấp, hay chỉ áp suất hút không đạt.
- Ghi chế độ làm việc đang chạy, số cụm máy hoạt động và chế độ xả đá tại thời điểm đọc.
- Ghi áp suất hút và áp suất đẩy trong cùng một lần đọc, kèm dụng cụ và người thực hiện.
- Ghi nhiệt độ bay hơi và nhiệt độ ngưng tụ thực tế tại vị trí đọc đã thống nhất.
- Ghi nhiệt độ khu vực đang phục vụ và so với yêu cầu nhiệt độ của khu vực đó.
- Ghi tải thực tế: sản lượng, nguồn nhiệt phát sinh, cửa mở, số lượng hàng hoặc sản phẩm đang xử lý.
- So bộ số liệu hiện tại với lần ghi gần nhất ở cùng chế độ và ghi rõ mức lệch.
- Kiểm tra thời gian đạt nhiệt độ theo nhật ký vận hành nhiều ngày gần nhất.
- Kiểm tra đường hút và các điểm từng có dấu hiệu thất thoát: dấu vết dầu, lớp cách nhiệt bong, tiếng lạ.
- Kiểm tra trạng thái cấp môi chất về dàn bay hơi có tương ứng với chế độ đang chạy hay không.
- Kiểm tra mức dầu ở vạch quan sát và thời điểm thay dầu gần nhất theo nhật ký bảo trì.
- Chốt hạng mục cần xử lý kèm phạm vi, người thực hiện, thời điểm đọc lại và chế độ đọc lại.
Danh mục này chỉ gồm việc đọc, ghi và đối chiếu. Các thao tác trên môi chất, dầu, van và điện do người có chuyên môn thực hiện theo quy trình an toàn của nhà máy.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi thường gặp
Những câu hỏi thường gặp khi lập kế hoạch và triển khai công việc này.
Áp suất đẩy thấp có luôn là dấu hiệu máy nén yếu?
Không. Áp suất đẩy gắn với nhiệt độ ngưng tụ, mà nhiệt độ ngưng tụ lại phụ thuộc vào tải và điều kiện giải nhiệt. Khi tải giảm hoặc nhiệt độ môi trường giải nhiệt giảm, áp suất đẩy thấp là hệ quả hợp lý. Chỉ khi nhiệt độ ngưng tụ và nhiệt độ bay hơi đo được không giải thích được mức áp suất đó mới nên chuyển hướng kiểm tra sang phần nén.
Cần đọc bao nhiêu lần trước khi kết luận hệ thống đang mất năng suất?
Nguyên tắc là ít nhất hai lần đọc trong cùng một chế độ làm việc, cùng điểm đọc và cùng cách ghi. Hai lần đọc cùng chiều hướng mới cho thấy xu hướng; một lần đọc đơn lẻ, kể cả khi chênh lệch lớn, vẫn có thể do điều kiện vận hành tại thời điểm đó.
Vì sao phải ghi kèm tải khi đọc áp suất?
Vì tải là điều kiện để so sánh. Hai bộ số liệu đọc ở hai mức tải khác nhau không so được với nhau, dù cả hai đều đúng. Khi bộ số liệu có ghi kèm tải, người phân tích mới xác định được phần lệch nào đến từ vận hành và phần lệch nào đến từ thiết bị.
Khi cặp áp suất tụt nhưng nhiệt độ khu vực vẫn đạt thì có cần xử lý ngay không?
Nếu nhiệt độ khu vực vẫn đạt, thời gian chạy không kéo dài và bộ số liệu ổn định ở mức mới, hiện tượng có thể được ghi nhận và đưa vào kế hoạch bảo trì gần nhất để theo dõi tiếp. Nếu cùng lúc xuất hiện dấu hiệu bất thường khác như tiếng lạ, rung hoặc rò rỉ, cần báo bộ phận kỹ thuật để đánh giá sớm hơn.
Bài này khác gì bài hướng dẫn đọc thông số áp suất?
Bài hướng dẫn đọc thông số trình bày cách đọc, đọc khi nào và so với dữ liệu nền nào. Bài này đi từ một triệu chứng cụ thể là tụt áp: phân biệt thiếu tải với mất năng suất nén, đối chiếu cặp áp suất với nhiệt độ bay hơi – ngưng tụ thực tế và chuyển kết quả đọc thành hạng mục bảo trì. Hai bài phục vụ hai công việc tìm kiếm khác nhau.
Liên kết
Liên kết liên quan
Nhóm dịch vụ phụ trách nội dung này, thiết bị liên quan và các bài viết cùng nhóm chủ đề.
Cần rà lại cặp áp suất hút – đẩy của cụm máy nén đang tụt áp?
Trao đổi với Á Châu Electric về nhật ký áp suất và nhiệt độ đã ghi theo ca, chế độ tải thực tế, tình trạng dầu và phụ tùng để cùng đối chiếu cặp áp suất với nhiệt độ bay hơi – ngưng tụ trước khi chốt hạng mục xử lý.
Thông tin nên chuẩn bị
- Bộ số liệu áp suất và nhiệt độ đã ghi theo ca
- Chế độ làm việc và tải thực tế của khu vực đang phục vụ
- Nhật ký bảo trì và mốc số liệu sau lần xử lý gần nhất
- Tình trạng dầu, phụ tùng chính và thời gian cung ứng
- Hotline0907 631 469
- Zalo0907 631 469
- Emailelectricachau@gmail.com
- Địa chỉSố nhà 39, Đường số 20, Khu phố Chánh An, Phường Phú Lợi, Thành Phố Hồ Chí Minh