Kiến thức · Bảo trì điện lạnh
Máy nén lạnh chạy dừng liên tục: kiểm tra điểm đặt và tải lạnh
Máy nén lạnh chạy dừng liên tục là tình huống cụm máy đóng cắt nhiều lần trong một khoảng thời gian ngắn, kèm cảm giác máy chưa kịp làm việc đã nghỉ. Hiện tượng này không đồng nghĩa với máy nén hỏng: nó có thể đến từ cấu hình điều khiển, từ tải thực tế của khu vực phục vụ, từ phía môi chất hoặc từ một lớp bảo vệ đang tác động lặp lại. Bài viết này trình bày cách đọc hình dạng chu kỳ theo thời gian chạy và thời gian nghỉ, cách phân biệt bốn nhóm nguyên nhân theo dấu hiệu tại chỗ, bộ dữ liệu cần ghi cho mỗi chu kỳ và quy tắc chuyển kết quả theo dõi thành hạng mục bảo trì cụ thể.
Chuyên mụcBảo trì điện lạnh
Tóm tắt nhanh
- Phải đọc hình dạng chu kỳ trước khi kết luận: thời gian chạy, thời gian nghỉ, số chu kỳ trong một giờ và dải nhiệt độ thực tế mà khu vực phục vụ dao động.
- Bốn nhóm nguyên nhân cần tách: cấu hình điều khiển (điểm đặt, dải chết, vị trí và đáp ứng của cảm biến), sai lệch giữa tải và năng suất, điều kiện phía môi chất kết thúc chu kỳ sớm, và lớp bảo vệ tác động lặp lại.
- Chu kỳ nghỉ dài hơn thời gian chạy ở tải bình thường thường thuộc nhóm cấu hình hoặc tải, không phải nhóm thiết bị.
- Chu kỳ ngắn dần qua các lần theo dõi, hoặc xuất hiện kèm dấu hiệu bất thường tại cụm máy, là dữ liệu cần chuyển sớm cho bộ phận kỹ thuật.
- Việc đọc trạng thái, ghi số liệu và đối chiếu nhật ký là công việc của người vận hành; mọi thao tác thay đổi cài đặt, xử lý phần điện, môi chất và dầu thuộc người có chuyên môn theo quy trình an toàn của nhà máy.
- Một chu kỳ ngắn đơn lẻ không đủ để kết luận; chỉ chuyển sang bảo trì khi hiện tượng lặp lại ở cùng điều kiện tải và cùng khoảng thời gian nghỉ.
Nguyên tắc đọc
Vì sao chu kỳ ngắn phải đọc bằng hình dạng chu kỳ
Một cụm máy lạnh vốn đóng cắt theo tải: khi khu vực phục vụ đạt nhiệt độ yêu cầu, máy nghỉ; khi nhiệt độ nhích khỏi khoảng cho phép, máy chạy lại. Vì vậy số lần đóng cắt chỉ có ý nghĩa khi đọc kèm thời gian chạy, thời gian nghỉ và dải nhiệt độ thực tế. Ba số liệu này mô tả hình dạng chu kỳ, và hình dạng chu kỳ mới phân biệt được đóng cắt theo thiết kế với đóng cắt bất thường.
Cách làm việc an toàn là ghi hình dạng chu kỳ trong một khoảng thời gian vận hành bình thường, ở cùng chế độ tải và cùng thời điểm trong ngày. Bản ghi đó trở thành mốc so sánh cho các lần theo dõi sau; nếu không có mốc, mọi kết luận về chu kỳ ngắn đều chỉ là cảm nhận tại chỗ.
Chu kỳ ngắn khác khoảng nghỉ bình thường
Trong vận hành bình thường, thời gian nghỉ thường dài hơn hoặc tương đương thời gian chạy ở mức tải thấp, và dải nhiệt độ của khu vực phục vụ giữ trong khoảng cho phép. Chu kỳ ngắn là khi thời gian chạy bị rút ngắn rõ rệt trong khi thời gian nghỉ cũng ngắn, khiến số lần đóng cắt tăng lên dù điều kiện tải không đổi.
Đọc chu kỳ trước khi đọc thiết bị
Một số nguyên nhân của chu kỳ ngắn nằm ở cấu hình và ở tải, không nằm ở cụm máy: điểm đặt và dải chết, vị trí và đáp ứng của cảm biến, cửa mở nhiều, lưu thông gió kém, hàng đưa vào chưa đúng cách. Đây là nhóm kiểm tra rẻ nhất và cũng hay bị bỏ qua nhất trước khi kết luận về máy nén.
Bốn nhóm
Bốn nhóm nguyên nhân và dấu hiệu phân biệt tại chỗ
| Nhóm nguyên nhân | Dấu hiệu ở hình dạng chu kỳ | Quan sát thêm tại chỗ | Dữ liệu cần ghi |
|---|---|---|---|
| Cấu hình điều khiển | Chu kỳ đều đặn, lặp lại giống nhau; thời gian nghỉ ngắn bất thường so với thói quen vận hành | Điểm đặt, dải chết và vị trí cảm biến so với vị trí cần kiểm soát nhiệt độ | Điểm đặt hiện hành, dải nhiệt độ quan sát được và lần chỉnh cài đặt gần nhất |
| Sai lệch giữa tải và năng suất | Chu kỳ thay đổi theo giờ sản xuất; nghỉ dài khi vắng tải, ngắn khi tải tăng | Sản lượng, số cụm máy đang chạy, cửa mở, hàng đưa vào, lưu thông gió | Mức tải theo ca, số lần mở cửa và khối lượng hàng đưa vào trong khoảng theo dõi |
| Điều kiện phía môi chất | Chu kỳ kết thúc sớm không theo tải; thời gian chạy ngắn nhưng nhiệt độ khu vực không đạt | Trạng thái trao đổi nhiệt tại dàn, dấu vết đóng tuyết hoặc dấu hiệu thất thoát trên đường ống | Diễn biến nhiệt độ khu vực trong mỗi chu kỳ và thời điểm kết thúc chu kỳ |
| Lớp bảo vệ tác động lặp lại | Máy ngắt ở cùng một mốc trong chu kỳ và lặp lại như nhau ở các lần sau | Trạng thái báo tại tủ sau mỗi lần ngắt và khoảng thời gian chạy được trước khi ngắt | Số lần ngắt trong ca, thời gian chạy được và trạng thái báo tại thời điểm ngắt |
Nhóm thứ tư thuộc một hướng chẩn đoán khác và không được xử lý trong bài này: khi bảo vệ tác động lặp lại, hồ sơ cần chuyển sang hướng chẩn đoán theo lớp bảo vệ. Bảng này chỉ giúp tách nhóm trước khi đi sâu.
Theo dõi chu kỳ không phải là thao tác chỉnh cài đặt
Nội dung trong bài chỉ gồm việc đọc trạng thái, ghi số liệu và đối chiếu nhật ký vận hành. Không tự thay đổi điểm đặt, không chỉnh dải chết, không di chuyển cảm biến, không đặt lại thiết bị bảo vệ, không vô hiệu hóa bảo vệ và không mở cửa tủ đang mang điện. Mọi thay đổi cài đặt, kiểm tra phần điện, xử lý môi chất và dầu thuộc người có chuyên môn theo quy trình an toàn và giấy phép làm việc của nhà máy. Khi chu kỳ ngắn kèm dấu hiệu bất thường như mùi khét, tiếng lạ, rung mạnh hoặc dấu vết rò rỉ, dừng cụm máy theo đúng quy trình dừng máy và báo bộ phận kỹ thuật thay vì tiếp tục theo dõi.
Phân biệt
Phân biệt đóng cắt theo thiết kế và chu kỳ ngắn bất thường
Trình tự dưới đây tách hiện tượng theo thiết kế với hiện tượng bất thường trước khi gọi thêm nguồn lực kỹ thuật.
- Ghi thời gian chạy và thời gian nghỉ của ít nhất ba chu kỳ liên tiếp trong cùng một chế độ tải.
- Ghi dải nhiệt độ thực tế của khu vực phục vụ trong khoảng theo dõi, không chỉ nhiệt độ hiển thị tại một thời điểm.
- So số lần đóng cắt trong một giờ với thói quen vận hành của chính cụm máy đó ở cùng mức tải và cùng thời điểm trong ngày.
- Xác nhận khu vực phục vụ đã đạt nhiệt độ yêu cầu hay chưa tại thời điểm máy nghỉ, để biết chu kỳ kết thúc vì đạt nhiệt độ hay vì lý do khác.
- Đối chiếu thời điểm chu kỳ ngắn với lịch sản xuất: tăng tải, mở cửa nhiều, đưa hàng vào kho hoặc chuyển ca.
- Kiểm tra chu kỳ xả đá có đang chạy trong khoảng theo dõi hay không, vì khoảng dừng theo chu kỳ xả đá không phải chu kỳ ngắn.
- Chốt kết luận tạm thời thuộc nhóm nào và ghi rõ điều kiện cần theo dõi lại, thay vì kết luận về tình trạng máy nén.
Điểm dễ sai nhất là đếm số lần đóng cắt mà không ghi thời gian chạy, thời gian nghỉ và mức tải. Khi thiếu ba số liệu đó, mọi kết luận về chu kỳ ngắn đều không so sánh được giữa các lần theo dõi.
Trình tự làm việc
Sáu bước từ lần đọc chu kỳ tới hạng mục bảo trì
Sáu bước dưới đây là trình tự trao đổi giữa bộ phận vận hành và bộ phận kỹ thuật sau khi đã ghi hình dạng chu kỳ.
Chốt khoảng theo dõi và chế độ tải
Ghi thời điểm bắt đầu và kết thúc theo dõi, ca vận hành, số cụm máy đang chạy và mức tải của khu vực phục vụ trong khoảng đó.
Ghi hình dạng chu kỳ
Ghi thời gian chạy, thời gian nghỉ và dải nhiệt độ thực tế của ít nhất ba chu kỳ liên tiếp, kèm số lần đóng cắt trong một giờ.
Loại trừ nhóm cấu hình và nhóm tải
Đối chiếu điểm đặt, dải chết, vị trí cảm biến và các thay đổi về tải trước khi quy kết cho cụm máy, vì đây là nhóm thay đổi được bằng cấu hình và vận hành.
Tách nhánh môi chất và nhánh bảo vệ
Nếu chu kỳ kết thúc sớm không theo tải, ghi diễn biến nhiệt độ khu vực; nếu máy ngắt ở cùng một mốc chu kỳ, chuyển hồ sơ sang hướng chẩn đoán theo lớp bảo vệ.
Đối chiếu nhật ký các lần theo dõi trước
So lần này với các lần trước theo cùng bộ dữ liệu để xác định chu kỳ đang ngắn dần, giữ nguyên hay đã thay đổi sau một lần xử lý.
Chốt hạng mục và điều kiện theo dõi lại
Ghi hạng mục cần xử lý kèm phạm vi, người thực hiện và thời điểm theo dõi lại theo đúng chế độ tải đã dùng, để xác nhận kết quả chứ không chỉ xác nhận máy đã chạy êm hơn.
Giá trị của quá trình theo dõi nằm ở bộ dữ liệu lặp lại được: cùng chế độ tải, cùng cách ghi, cùng khoảng thời gian trong ngày. Khi cách ghi thay đổi giữa các ca, hình dạng chu kỳ không còn so sánh được.
Dữ liệu
Dữ liệu cần ghi cho mỗi chu kỳ theo dõi
| Trường dữ liệu | Nội dung cần ghi | Ghi ở đâu | Dùng để làm gì ở lần sau |
|---|---|---|---|
| Thời gian chạy | Khoảng thời gian từ lúc máy bắt đầu chạy tới lúc dừng ở mỗi chu kỳ | Nhật ký vận hành của cụm máy, theo dòng thời gian | So thời gian chạy giữa các chu kỳ để biết chu kỳ đang ngắn dần hay giữ nguyên |
| Thời gian nghỉ | Khoảng thời gian máy nghỉ giữa hai lần chạy | Cùng dòng với thời gian chạy | Phân biệt chu kỳ theo thiết kế với chu kỳ ngắn thật sự |
| Dải nhiệt độ khu vực | Nhiệt độ thấp nhất và cao nhất của khu vực phục vụ trong khoảng theo dõi | Nhật ký vận hành hoặc phiếu theo dõi nhiệt độ | Xác định chu kỳ kết thúc vì đạt nhiệt độ yêu cầu hay vì lý do khác |
| Điều kiện tải | Sản lượng, số lần mở cửa, hàng đưa vào kho và lưu thông gió trong khoảng theo dõi | Nhật ký vận hành theo ca | Xác định chu kỳ ngắn gắn với tải hay gắn với cụm máy |
| Trạng thái cài đặt và trạng thái báo | Điểm đặt hiện hành, lần chỉnh gần nhất và trạng thái báo tại tủ trong khoảng theo dõi | Nhật ký cài đặt và biên bản kiểm tra | Đối chiếu chu kỳ ngắn với thay đổi cấu hình hoặc với bảo vệ tác động |
Năm trường dữ liệu này chỉ gồm việc quan sát và ghi chép. Không trường nào yêu cầu thay đổi cài đặt, di chuyển cảm biến, mở tủ đang mang điện hay tác động vào mạch động lực.
Đối chiếu
Nguyên nhân thuộc cấu hình – vận hành và thuộc thiết bị đối chiếu theo bốn nhóm
| Nhóm đối chiếu | Thuộc cấu hình hoặc vận hành | Thuộc thiết bị của cụm máy | Cách phân biệt tại chỗ |
|---|---|---|---|
| Nhịp của chu kỳ | Chu kỳ đều và lặp lại giống nhau, thay đổi khi cấu hình hoặc tải thay đổi | Chu kỳ không đều, ngắn dần ở cùng điều kiện tải và cùng cấu hình | So ba chu kỳ liên tiếp trong cùng một khoảng theo dõi |
| Nhiệt độ khu vực khi máy nghỉ | Đã đạt ngưỡng yêu cầu ở thời điểm máy nghỉ | Chưa đạt ngưỡng yêu cầu nhưng máy vẫn nghỉ, hoặc nhiệt độ tiếp tục nhích lên trong lúc nghỉ | Ghi nhiệt độ tại thời điểm máy nghỉ và tại thời điểm máy chạy lại |
| Liên quan tới cấu hình | Trùng với một lần chỉnh điểm đặt, dải chết hoặc thay đổi vị trí cảm biến | Không gắn với lần chỉnh cấu hình nào trong nhật ký | Đối chiếu ngày xuất hiện chu kỳ ngắn với nhật ký cài đặt |
| Hành vi sau khi điều chỉnh điều kiện vận hành | Chu kỳ trở về nhịp bình thường khi tải và cấu hình trở lại | Chu kỳ vẫn ngắn dù tải và cấu hình đã trở lại như trước | Theo dõi lại theo cùng bộ dữ liệu, không thay cách ghi |
Hai nhóm này có thể cùng xuất hiện: một lần chỉnh cấu hình có thể làm lộ ra một cụm máy đã yếu. Vì vậy biên bản cần tách rõ phần nào thuộc cấu hình – vận hành và phần nào thuộc thiết bị, thay vì chọn một kết luận duy nhất.
Lỗi thường gặp
Những kết luận sai thường gặp khi máy nén chạy dừng liên tục
Các tình huống dưới đây dẫn tới thay thiết bị hoặc xử lý lặp lại nhiều lần. Điểm chung là kết luận được đưa ra khi hình dạng chu kỳ chưa được ghi.
- Kết luận máy nén hỏng chỉ vì đếm được nhiều lần đóng cắt, trong khi chưa ghi thời gian chạy và thời gian nghỉ.
- Bỏ qua mức tải tại thời điểm theo dõi rồi so nhịp chu kỳ của giờ vắng tải với giờ cao điểm sản xuất.
- Coi khoảng dừng trong chu kỳ xả đá là chu kỳ ngắn bất thường, dẫn tới kiểm tra thiết bị không cần thiết.
- Ghi nhiệt độ khu vực tại một thời điểm duy nhất thay vì ghi dải nhiệt độ trong cả khoảng theo dõi.
- Gộp chu kỳ kết thúc vì đạt nhiệt độ với chu kỳ bị lớp bảo vệ ngắt thành một hiện tượng duy nhất.
- Xác nhận đã xử lý xong chỉ vì máy chạy êm hơn một lúc, mà không theo dõi lại bằng cùng bộ dữ liệu đã dùng trước đó.
Mỗi trường hợp trên đều tránh được bằng cùng một cách: chốt chế độ tải, ghi hình dạng chu kỳ của ít nhất ba chu kỳ, tách bốn nhóm nguyên nhân và theo dõi lại bằng cùng bộ dữ liệu.
Danh mục kiểm tra
Danh mục theo dõi khi máy nén lạnh chạy dừng liên tục
Danh mục dưới đây dùng cho khoảng theo dõi tại chỗ. Mỗi mục nên được ghi kèm số liệu hoặc trạng thái quan sát, thời điểm, ca vận hành và người thực hiện để các lần theo dõi sau so sánh được trên cùng bộ dữ liệu.
- Ghi thời điểm bắt đầu và kết thúc khoảng theo dõi, ca vận hành và người thực hiện.
- Ghi số cụm máy đang chạy và mức tải của khu vực phục vụ trong khoảng theo dõi.
- Ghi thời gian chạy của ít nhất ba chu kỳ liên tiếp trong cùng chế độ tải.
- Ghi thời gian nghỉ giữa hai lần chạy của chính ba chu kỳ đó.
- Ghi số lần đóng cắt trong một giờ và so với thói quen vận hành ở cùng mức tải.
- Ghi nhiệt độ thấp nhất và cao nhất của khu vực phục vụ trong khoảng theo dõi.
- Xác nhận nhiệt độ khu vực tại thời điểm máy nghỉ và tại thời điểm máy chạy lại.
- Ghi điểm đặt hiện hành, dải chết đang dùng và lần chỉnh cài đặt gần nhất theo nhật ký.
- Đối chiếu vị trí cảm biến nhiệt độ với vị trí cần kiểm soát nhiệt độ của khu vực.
- Đối chiếu thời điểm chu kỳ ngắn với lịch sản xuất, số lần mở cửa và hàng đưa vào kho.
- Kiểm tra chu kỳ xả đá có đang chạy trong khoảng theo dõi hay không.
- Chốt hạng mục cần xử lý kèm phạm vi, người thực hiện và thời điểm theo dõi lại theo cùng chế độ tải.
Danh mục này chỉ gồm việc đọc, ghi và đối chiếu. Việc thay đổi điểm đặt, chỉnh dải chết, di chuyển cảm biến, xử lý phần điện, môi chất và dầu do người có chuyên môn thực hiện theo quy trình an toàn và giấy phép làm việc của nhà máy.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi thường gặp
Những câu hỏi thường gặp khi lập kế hoạch và triển khai công việc này.
Máy nén đóng cắt nhiều lần có phải là dấu hiệu máy nén yếu?
Không. Cụm máy vốn đóng cắt theo tải, nên số lần đóng cắt chỉ có ý nghĩa khi đọc kèm thời gian chạy, thời gian nghỉ và dải nhiệt độ thực tế của khu vực phục vụ. Chu kỳ ngắn có thể đến từ cấu hình điều khiển, từ tải thực tế, từ phía môi chất hoặc từ một lớp bảo vệ tác động lặp lại. Muốn kết luận về máy nén cần dữ liệu lặp lại ở cùng mức tải và cùng cấu hình.
Cần theo dõi bao nhiêu chu kỳ mới đủ để kết luận?
Nguyên tắc là ít nhất ba chu kỳ liên tiếp trong cùng một chế độ tải, cùng cách ghi và cùng khoảng thời gian trong ngày. Ba chu kỳ cho thấy nhịp đều hay không đều; một hoặc hai chu kỳ đơn lẻ có thể bị ảnh hưởng bởi sự kiện vận hành tại thời điểm đó như mở cửa, đưa hàng vào kho hoặc chuyển ca.
Vì sao phải ghi cả thời gian nghỉ?
Vì thời gian nghỉ phân biệt hai tình huống rất khác nhau. Nếu thời gian nghỉ vẫn dài và máy nghỉ khi khu vực đã đạt nhiệt độ yêu cầu, đó là đóng cắt theo thiết kế. Nếu thời gian nghỉ bị rút ngắn trong khi điều kiện tải không đổi, nhịp chu kỳ đã thay đổi và cần đọc tiếp các nhóm nguyên nhân còn lại.
Khi nào cần chuyển cho bộ phận kỹ thuật?
Khi chu kỳ ngắn dần qua các lần theo dõi ở cùng điều kiện tải, khi nhiệt độ khu vực không đạt dù máy đã chạy đủ, hoặc khi máy ngắt kèm dấu hiệu bất thường như tiếng lạ, rung mạnh, mùi khét hoặc dấu vết rò rỉ. Trường hợp máy ngắt ở cùng một mốc chu kỳ và lặp lại như nhau nên được chuyển theo hướng chẩn đoán lớp bảo vệ.
Có nên tự chỉnh điểm đặt để máy chạy dài hơn không?
Không. Thay đổi điểm đặt hoặc dải chết là thay đổi điều kiện bảo quản và điều kiện làm việc của hệ thống, thuộc người có chuyên môn theo quy trình của nhà máy. Tự chỉnh sẽ làm mất mốc so sánh của các lần theo dõi trước và có thể che mất nguyên nhân thật của chu kỳ ngắn.
Liên kết
Liên kết liên quan
Nhóm dịch vụ phụ trách nội dung này, thiết bị liên quan và các bài viết cùng nhóm chủ đề.
Cần theo dõi nhịp chạy – dừng của cụm máy nén?
Trao đổi với Á Châu Electric về nhật ký đóng cắt theo ca, thời gian chạy và thời gian nghỉ đã ghi, dải nhiệt độ thực tế của khu vực phục vụ, điểm đặt đang dùng và nhật ký bảo trì gần nhất để cùng tách nhóm nguyên nhân trước khi chốt hạng mục xử lý.
Thông tin nên chuẩn bị
- Nhật ký đóng cắt của cụm máy nén theo ca vận hành
- Thời gian chạy và thời gian nghỉ của các chu kỳ gần nhất
- Dải nhiệt độ thực tế của khu vực phục vụ trong khoảng theo dõi
- Điểm đặt, dải chết đang dùng và lần chỉnh cài đặt gần nhất
- Hotline0907 631 469
- Zalo0907 631 469
- Emailelectricachau@gmail.com
- Địa chỉSố nhà 39, Đường số 20, Khu phố Chánh An, Phường Phú Lợi, Thành Phố Hồ Chí Minh